Hoài Việt

Nhà văn, Nhà báo Hoài Việt

Tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp

CHA TÔI NHÀ GIÁO VIẾT VĂN - CHỞ ĐẠO CHO ĐỜI


Cha tôi không sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nhưng ông đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp trồng người, cho ngành giáo dục và cho nền văn học nghệ thuật của Thủ đô Hà Nội.

Cha tôi nhà giáo Nguyễn Việt Hoài - Bút danh Hoài Việt, Đồ Nghệ, Hoành Mi, Mực Đỏ, Nguyễn Trung Kiên, Nguyễn Lê Huy... tên khai sinh là Nguyễn Như Cương, sinh ngày 01/01/1928 tại xã Quỳnh Đôi - huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An. Một làng quê nghèo nằm trên dải đất miền Trung khô cằn, nắng lửa nhưng nổi tiếng là đất học với câu ca lưu truyền trong dân gian: “Bắc Hà - Hành Thiện, Hoan Diễn - Quỳnh Đôi”. 

Làng Quỳnh Đôi quê tôi do ông tổ 3 dòng họ: Hồ, Nguyễn, Hoàng thành lập nên cách đây 640 năm (1378) với cái tên khai thiên lập địa là Thổ Đôi Trang - (làng nằm trên cồn cát), cách huyện lỵ Quỳnh Lưu (ga Cầu Giát) 6km và cách tỉnh lỵ Nghệ An (ga Vinh) 60km. Chuyện xưa kể rằng: Ông tổ của 3 dòng họ Hồ, Nguyễn, Hoàng khi đi tìm đất lập nghiệp qua đây thấy trên trời một bầy chim lớn bay vòng tròn quần tụ, dưới đất thì một đàn cọp dữ nằm phủ phục chẳng chịu dời đi. Cho rằng đây là vùng “đất lành chim đậu” nên ba ông quyết định cắm đất dựng làng, an cư lạc nghiệp tại đây. (Ngày nay vẫn còn đền thờ Thành Hoàng làng - thờ ba ông tổ họ Hồ, Nguyễn, Hoàng ở nơi đất thiêng đầu làng, dân làng gọi là Đền Thần). 

Lý giải về truyền thống hiếu học, học giỏi, đỗ đạt cao của làng Quỳnh quê tôi, một ông thầy địa lý người Tàu qua làng sau một hồi trông trời, ngắm đất nhìn địa thế tứ bề đã phán rằng: 

- “Trước mặt là hòn Bút, hòn Nghiên, sau lưng là hòn Sách, hòn Bảng (tiếc rằng mấy quả núi này ngày nay đã bị người ta san phẳng để lấy đá tôi vôi và làm đường mất rồi!) sống trên mảnh đất trời cho này con người ở đây sau này ắt sẽ học hành thành đạt và được làm thầy thiên hạ”. 

Phải chăng đúng như lời thầy địa lý nọ mà đàn ông làng Quỳnh quê tôi chuyên cần học tập, thành thầy đồ đi dạy cho dân khắp vùng trong cả nước. Đất quê tôi mới sản sinh ra những danh sĩ nổi tiếng một thời như: Hồ Sĩ Dương - Tể tướng (1621 - 1681), Hồ Sĩ Đống (1739 - 1785), Hồ Xuân Hương (1772 - 1822), Phạm Đình Toái (1813 - 1903)...

Cha tôi sinh ra mang dòng máu truyền thống hiếu học của cha ông, lớn lên trong những câu hát ru ầu ơ của mẹ ca ngợi về những người dân cần cù chịu khó và làng nghề truyền thống quê mình: 

“Quê ta nổi tiếng trăm miền

Lụa tơ chợ Hạ, văn hiền Quỳnh Đôi”

“Chợ Nồi một tháng sáu phiên

Ai làm canh cửi, chính chuyên thì giàu”...

Chợ Nồi là chợ làng nổi tiếng quê tôi, ngày tôi còn nhỏ, thỉnh thoảng vẫn được bà nội kể cho nghe về cái chợ quê gắn liền suốt một thời con gái của Người. Bà nội tôi là một phụ nữ chuyên cần, đảm đang chăm lo việc tằm tang, canh cửi lấy tiền nuôi chồng con ăn học thành tài. Biết lụa làng mình làm ra bền, đẹp có tiếng nên bà nghĩ ra việc thu mua lụa các nhà trong làng rồi nay chợ Vinh, bến Thủy, mai Hà Nội, Hà Đông, tần tảo buôn bán, trao đổi để kiếm đồng lãi thêm vào thu nhập cho gia đình.

Ông nội tôi theo nghề thuốc của cha, lại chịu khó mở thêm lớp học dạy trẻ quanh vùng, làm miết mà vẫn không thoát nổi kiếp ông đồ nghèo xứ Nghệ: 

“Ông nội xưa làm thuốc không giàu

Mồ hôi tay thấm chua vị quế

Con dao cầu thái cuộc đời nô lệ

Mỏng thành từng nhát hoài sơn

Đến đời cha không khá gì hơn

Ngồi dạy học kiêm nghề bốc thuốc

Nỗi uất hận vút cong đầu ngọn thước

Lòng thương người mát tay kê đơn

Suốt đời mang một chiếc áo lương sờn

Lòng muốn sáng mà mắt thì tối sẫm...

Biết rằng nếu con mình chỉ với chút vốn chữ Hán ít ỏi để làm kiếp ông đồ xứ quê thì không bao giờ khá được nên ông bà nội tôi đã chắt bóp, dành dụm cho cha tôi lên tỉnh, ra Hà Nội học chút chữ nghĩa Tây học. Mong rằng con mình sau này thoát kiếp ông đồ nghèo của làng quê và đem tài trai ra giúp nước. 

Nhưng “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” năm 1945 khi cha tôi đang chuẩn bị thi bằng Tú tài thì Cách mạng tháng 8 thành công. Như cánh chim bằng được thả vào phương trời rộng, ông bỏ học về quê tham gia vào đội Tuyên truyền xung phát Tổng ủy Phú Hậu. Sau đó vì có chút trình độ, chữ nghĩa nên ông được phân về công tác tại Cục ngoại thiệp của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An để tiện những việc giao dịch của tỉnh với các tổ chức quốc tế lúc đó. Rồi ông được phân công về công tác ở ban Kịch - Văn nghệ tuyên truyền Vệ quốc đoàn Khu IV, dạy học ở trường Thiếu sinh quân Khu IV. 

Từ năm 1952 ông về Hà Nội hoạt động vận động trí thức yêu nước nội thành. Để che mắt địch ông vừa dạy học vừa hoạt động vận động trí thức yêu nước nội thành hướng về theo kháng chiến. Để tuyên truyền tư tưởng cách mạng nhanh và sâu rộng tới tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên ông tham gia viết văn, làm báo. Ông từng là thư ký tòa soạn báo Dân Ý, chủ bút tờ báo Niềm Vui hai tờ báo do Thành ủy chỉ đạo thành lập và là tiếng nói của trí thức yêu nước trong lòng Thủ đô tạm bị chiếm hướng về Cách mạng. Thời gian này ông sáng tác rất nhiều thơ, văn, viết nhiều bài nghiên cứu phê bình để định hướng cho bạn đọc và cũng là để kêu gọi lòng yêu nước của mọi người dân trong vùng địch tạm chiếm. 

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (20/7/1954) ông được Thành ủy Hà Nội cử ra vùng tự do học tập để chuẩn bị cho việc đón quân ta về tiếp quản Thủ đô. Khi Thủ đô Hà Nội hoàn toàn được giải phóng, ông cùng bạn bè, (những người trí thức yêu nước hoạt động nội thành Hà Nội) đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình với nhân dân, với dân tộc. Như bao người dân bình thường khác, ông lại trở về với những công việc đời thường, bình dị của mình, vẫn một lòng trung kiên theo Đảng mà không hề đòi hỏi chế độ ưu đãi vì những đóng góp công sức của mình cho sự nghiệp Cách mạng. 

Nhìn lại 86 năm cuộc đời của ông (1928 - 2013) có thể chia làm mấy giai đoạn như sau: 

- 1928 - 1945: Thời niên thiếu - đi học - sống trong sự đùm bọc của gia đình.

- 1946 - 1954: Theo cách mạng - thỏa chí tang bồng - định hướng nghề nghiệp: dạy học - sáng tác văn chương. 

- 1955 - 1988: Chiêm nghiệm cuộc sống với những bài học của cuộc đời mang tới - Chuyên tâm vào sự nghiệp giáo dục và sáng tác văn chương với quan niệm của người xưa “Văn học là nhân học” - Dạy cho người ta cách học làm người.

- 1989 - 2013: Nghỉ hưu - sống hạnh  phúc bên gia đình - con cháu - Hoài niệm - sáng tác văn chương - viết sách, báo để tri ân cuộc đời và tôn vinh bạn bè, nhất là những người bạn văn một thời bị xã hội hiểu lầm và lãng quên họ. (Với việc làm này ông được bạn văn đương thời quý trọng và đánh giá rất cao). 

Lúc sinh thời, ông sống chân thành, trung thực với đời không phô trương, rất khiêm tốn, giản dị như chính mình đúng như tấm danh thiếp của ông trao cho mọi người Đủ nghĩa và vừa Để hiểu: HOÀI VIỆT - Dạy học, viết văn. Mặc dù trước khi đi xa ông để lại cho đời sự nghiệp giáo dục với 40 năm làm thầy, làm người trở đò cần mẫn đầy trách nhiệm đưa biết bao thế hệ trẻ vượt qua biển học tới bến bờ vinh quang của Tri Thức. Ông để lại cho đời một Công Trình văn chương đồ sộ: gần 20 kịch bản sân khấu với đủ các thể loại (kịch nói, kịch thơ, cải lương, chèo, dân ca...), hàng chục tiểu thuyết, truyện danh nhân lịch sử, tập thơ, hàng chục cuốn sách khảo cứu, chú giải, nghiên cứu - phê bình và hàng nghìn bài báo được in trên các nhật báo, tuần báo, tạp chí, tập san của Trung ương và địa phương. 

Ở ông luôn song song tồn tại hai con người nhà giáo - nhà văn nhưng đồng nhất một quan điểm là hướng cho người đọc, hướng cho học sinh tới cái CHÂN, THIỆN, MĨ của cuộc đời. Ông đúc rút kinh nghiệm 40 năm nghề giáo để viết nên những tác phẩm văn chương, nhưng để có những kiến thức sâu rộng dạy học thì ông phải đọc hàng ngàn tác phẩm văn chương, những điển tích đông tây kim cổ, những sự kiện lịch sử rồi chắt lọc, đúc kết như con tằm rút ruột nhả tơ thì mới có được những kiến thức truyền thụ tới học trò của mình. Ông là người có trách nhiệm với mình, có trách nhiệm với đời, có trách nhiệm với học trò, có trách nhiệm với nghề, có trách nhiệm với thế hệ trẻ và cũng là người ham học hỏi nên mỗi khi cần giải thích một điển cố văn học, một sự kiện lịch sử ông sẵn sàng không tiếc công sức, bỏ thời gian vào thư viện lục tìm tài liệu, trao đổi ý kiến với bạn bè để tìm đến ngọn nguồn sự thực mới đưa ra chính kiến của mình. 

Cũng chính nhờ nghề giáo - viết văn nên ông yêu các chí sĩ, các danh nhân lịch sử, ông đồng cảm với những nỗi buồn, những nỗi đau, những bức xúc của họ trước những tiêu cực của xã hội mà bản thân họ nhìn thấy mà khó làm thay đổi được. Do đó, các tác phẩm văn học của ông thường đi sâu nghiên cứu và đề cao các danh nhân, danh sĩ như: Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, Nguyễn Đình Chiểu... Ông thường lấy phương châm tư tưởng của họ đề ra để giáo dục cho đời: “Văn dĩ tải đạo” - “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm - Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”... (Nguyễn Đình Chiểu). Nó phản ánh đúng như bản chất trung thực, thẳng thắn, khảng khái ở con người xứ Nghệ của ông.  

Ông luôn kính trọng các danh sĩ thời trước vì họ là những con người đức độ, khoan dung, nho nhã ông rất kính trọng chính vì thế khi viết về họ văn phong của ông cũng phải khuôn mẫu, mực thước, chau chuốt kỹ càng nhưng mộc mạc, bình dị như con người họ, con người của ông vậy! Không những thế để đi trước và đáp ứng được những diễn biến của thời cuộc ông học được họ tính cách thẳng thắn, bộc trực, có tầm nhìn xa trông rộng, dự báo và quyết đoán trước mọi vấn đề của xã hội. Từ những năm 70 - 80 của thế kỷ trước, trước những diễn biến phức tạp của xã hội và đạo đức xã hội có phần suy thoái, xuống cấp, với trách nhiệm người làm thầy, trách nhiệm người cầm bút ông đã “ôn cố tri tân” dùng lời dạy của người xưa như Nguyễn Trãi khuyên vua khi thấy lòng dân bất phục: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng do dân”. Ông viện dẫn những lời khải của Ngô Thì Nhậm tấu lên chúa Trịnh Sâm nhắc nhở, can gián nhà Chúa về việc quan lại hà lạm, tham nhũng, về bộ máy cồng kềnh của nhà nước làm tổn hại tới sức dân, về nguyên nhân thiên tai, địch họa, về chuyện mua quan, bán tước... để làm gương và chỉ ra cho mọi người đương đại nhìn thấy bài học nhãn tiền của lịch sử!

Cha tôi là một nhà giáo - viết văn nên ông có tấm lòng bao dung rộng lớn, ông thường yêu trước tình yêu của mọi người, đau trước nỗi đau của cuộc đời, ông thường đau đáu lo toan tới tương lai của đất nước nên ông dành cả cuộc đời mình để làm việc, để cống hiến cho xã hội. Có những người bạn, những học trò khi thấy ông tuổi đã cao, sức đã yếu vẫn cặm cụi viết lách họ khuyên ông nên nghỉ đi để giữ sức khỏe thì ông tâm sự rằng:

- Tôi muốn còn ít kiến thức, kinh nghiệm nào thì rút nốt mong làm sao giúp ích cho con cháu và xã hội là được. 

Năm 2012 khi thấy sức khỏe yếu biết mình sẽ chẳng còn sống được bao lâu nữa, mà thấy anh chị em chúng tôi thì cứ cấn cá lo bàn bạc về việc hậu sự của ông. Ông gọi anh em chúng tôi lại bảo: 

- Các con đừng quá quan tâm tới việc sau này của Ba. Không phải đưa Ba về quê nữa mà xa xôi vất vả. Nếu cần thì hỏa thiêu và đưa Ba về chỗ nào đó thuận tiện cho các con, cháu là được (mặc dù tôi biết lòng ông không muốn vậy, chỉ vì thương các con, các cháu vất vả mà ông nói vậy thôi). Nhưng rồi may mắn anh chị em chúng tôi cũng tìm được mảnh đất phía Tây Hà Nội (Tây Phương cực lạc) - Lạc Hồng Viên ở đó có núi, có hồ, có suối để đưa Người về đó an nghỉ - lòng tự an ủi lòng là cha mình cũng như Thầy giáo Chu cuối đời về ở ẩn dưới núi Phượng Hoàng, như cụ Nguyễn Trãi lại về nơi Côn Sơn an nhàn chơi cờ, làm thơ, nghe tiếng suối chảy mà ngẫm sự đời. Chính vì vậy thỉnh thoảng nhớ Ông, anh chị em chúng tôi lại rủ nhau về đây thăm cha mà cảm giác như về ngôi nhà nhỏ, nơi cha mình đang ở, đang ngồi dạy học, làm thơ, viết sách như những ngày xưa yêu dấu Người vẫn đang ở cùng chúng tôi vậy. Mỗi khi về đây, đứng giữa mênh mang đồi núi, đất trời thỉnh thoảng tôi vẫn nghe vang lên tiếng đọc thơ, bình văn sang sảng của ông: “Sông núi nước Nam vua Nam ở” (Bài thơ Thần - Khuyết danh), “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” (Cáo Bình Ngô - Nguyễn Trãi)... Đó cũng chính là tiếng lòng của ông nhắc nhở, gửi gắm lại cho đời sau, cho các thế hệ học sinh của mình. Mấy năm gần đây một số bạn bè, bạn nghề của ông cũng được quy tụ về đây, mỗi khi lên thăm ông, chúng tôi lại đi thắp hương cho họ mà lòng thấy phần nào thanh thản vì cha mình không phải sống đơn độc ở nơi xa vắng này nữa! 

Cha tôi lúc sinh thời sống rất quảng giao nên bạn bè đông lắm! Nhưng ở tuổi của ông bây giờ thì bạn bè cũng dần theo ông về nơi xa xăm ấy, những người còn lại do tuổi tác nên sức khỏe cũng ngày một kém. Hàng năm cứ nhân dịp Tết đến xuân về nhớ tới cha mình tôi lại đến thăm hỏi, tri ân họ và cũng là được ôn lại những kỷ niệm cũ của cha mình. Hôm nay tôi đến thăm chú Hồ Khắc Đính, ông nguyên là Hiệu trưởng trường Ba tôi dạy những năm 67-68 của thế kỷ trước và ông cũng là người bạn tâm giao một thời của Ba tôi. Không những thế sau này ông còn là thủ trưởng trực tiếp nơi vợ tôi công tác, đến với ông chúng tôi cảm thấy gần gũi, thân tình như con cháu lại trở về nhà mình vậy!

Hôm vừa rồi Hội Nhà văn tổ chức lễ giới thiệu tuyển tập sách của Ba tôi, ông tới dự và kể lại những kỷ niệm một thời gian khó trong chiến tranh của hai ông thật nghĩa tình và vô cùng cảm động. Trong buổi lễ giới thiệu sách này cả hội trường đã biết bao lần rơi lệ về những kỷ niệm, những tình cảm mà các thế hệ học sinh (thời Hà Nội tạm bị chiếm, thời Hà Nội mới giải phóng, thời Hà Nội sơ tán chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ...) kể lại về cha tôi. Phải chăng đó là tấm bằng ghi công vô giá nói lên sự thành công trong sự nghiệp làm thầy của ông!

Cha tôi trước khi đi xa đã có gần 70 năm cầm bút với biết bao tác phẩm ở nhiều thể loại khác nhau. Khi ông mất thì các tác phẩm, di cảo này bị thất lạc (vì ông đã đưa cho ai đó hứa làm tuyển tập cho ông mà ông chẳng dặn lại để con cháu được biết một phần cũng là lỗi, do công tác tàng thư, lưu trữ của ta còn kém). Anh chị em chúng tôi nhiều năm nay đã bằng nhiều cách, nhiều nguồn thông tin mà vẫn chưa tìm lại được. Năm nay nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Ông chúng tôi quyết tâm sưu tầm để lưu lại các tác phẩm của cha tôi để dành lại cho đời. 

Người đầu tiên tôi nghĩ tới để trao đổi và tham khảo ý kiến là anh Vũ Quần Phương - một người đồng nghiệp (văn chương) - một người học trò cũ của ông. Tôi nghĩ tới anh là vì tôi biết thế hệ các anh rất yêu thày, rất trọng thày, tôi vẫn nhớ lời anh tâm sự cùng tôi: 

- Thời đó, anh kính trọng các thày lắm, anh nghĩ rằng những thức thày ăn, nước thày uống phải là những thứ cao siêu lắm chứ không phải những thứ tầm thường như của mình vẫn dùng. Anh còn kể tôi nghe: Phòng làm việc của anh là nơi các nhà văn, nhà thơ hay đến để bàn bạc công việc, anh thường tiếp họ như những đồng nghiệp bình thường. Nhưng cũng vẫn những con người đó khi đi cùng cha tôi tới thì anh lặng lẽ pha trà rồi sau ba câu, sau điều xã giao với họ anh lảng ra chỗ khác vì không dám ngồi ngang hàng với thày mình để tiếp chuyện! Nghe câu chuyện này tôi mới thấy buồn làm sao và cứ ước ao bao giờ cho đến ngày xưa để học sinh thời nay biết ứng xử lễ nghĩa, trọng thày như thời của các anh, thời của chúng tôi ngày xưa nhỉ! 

Mỗi khi đọc lại sổ tang của gia đình, không biết bao lần nước mắt tôi cứ trào ra mỗi khi đọc tới những câu lưu bút của anh ngày tiễn biệt cha tôi đi xa:

Vĩnh biệt thầy kính yêu - thầy mang tuổi thơ của em đi mất rồi!

Quả tình tìm tới anh tôi có được nguồn động viên cổ vũ lớn, anh đã nhiệt tình đóng góp cho chúng tôi những ý kiến bổ ích để hoàn thành tập 1 tuyển tập: Nhà giáo - Nhà văn Hoài Việt tác phẩm và sự nghiệp. 

Cha tôi đã đi xa mãi mãi về cõi vĩnh hằng nhưng lời dạy của ông vẫn luôn văng vẳng bên tai tôi: “Để lại cho con một hòm vàng đầy không bằng để lại cho con một cuốn sách”. Chính vì thế mặc dù gặp nhiều khó khăn, trắc trở nhưng chúng tôi vẫn cố gắng bằng mọi cách tìm lại những tác phẩm của Người tập hợp thành những cuốn sách lớn - Những hòm vàng mà ông đã vắt kiệt trí tuệ cả cuộc đời mình hun đúc nên, để dành lại cho đời sau. 

Cảm nhận về Hoài Việt

Vĩnh biệt thầy kính yêu - thầy mang tuổi thơ của em đi mất rồi!

Vũ Quần Phương

Ông ngoại mãi mãi là tượng đài về kiến thức, là người gieo hạt cho khát vọng cuộc đời, là nguồn động viên về nghị lực học tập, làm việc, và trên tất cả là Ông Ngoại kính yêu của cháu!

Nhật Quang (cháu ngoại)2012

Thư viện tác phẩm

Bình luận & nghiên cứu về Hoài Việt

Các bài viết của người khác viết về ông và các nghiên cứu của ông