NGUYỄN BÍNH - THI SĨ CỦA YÊU THƯƠNG
“Tôi là thi sĩ của thương yêu”, đó là một câu thơ của Nguyễn Bính. Nhưng đó cũng là cái “TÂM” (tình cám) của anh, cái “HỒN” (lí trí) của anh.
Con người mà sau này nổi tiếng giàu tình cảm bậc nhất trong số các nhà thơ lãng mạn nửa đầu thế kỉ 20, con người ấy mới ba tháng tuổi đã mồ côi mẹ. Từ lúc bắt đầu mắt mở lóa ra trước ánh sáng của vũ trụ cho đến lúc nhắm mắt vĩnh viễn rơi vào cõi hư huyền đen kịt, anh chưa được một lần cất tiếng gọi MẸ. Đối với sinh vật, không có nỗi bất hạnh nào lớn hơn thế. Tình thương của người cha, người anh ruột dù thiết tha, đằm thắm đến mấv cũng không thay thế được tình mẫu tử thiêng liêng, có chăng anh tìm thấy chút nào ở một người - như anh thường tâm sự với tôi - một chị Trúc đã đi vào nhiều bài thơ anh, một chị Trúc mà anh gởi gắm bao nhiêu điều gan ruột.
Phải chăng anh trải lòng ra cũng vì lẽ ấy?
Nhưng nỗi bất hạnh này lại cũng có một chút nào đấy hữu hạnh. Sớm mồ côi nên được sớm quăng vào đời. Ở cái tuổi ăn tuổi chơi của trang lứa mình, Nguyễn Bính đã phải lên rừng, xuống biển, vào Nam, ra Bắc để kiếm sống. Đi nhiều, thấy nhiều, nghe nhiều, biết được nhiều - nhiều cảnh, nhiều người, nhiều việc - để quay lại tự nhìn thấy mình. Thấy đất nước đẹp giàu mà nhân dân mình khổ. Trong cái khổ của đồng bào mình có cái khổ của mình. Vì vậy mà thương, mà yêu. Cái bầu sữa ngọt của bà mẹ đẻ ra anh, anh không được hưởng mấy chút. Nhưng may mắn thay, MẸ TỔ QUỐC đã vắt cho anh bầu sữa mát lành tràn ngập trong thơ anh. Lại cũng bởi cái tâm anh, cái hồn anh gắn bó máu thịt với MẸ TỔ QUỐC nên anh làm được những bài thơ tuyệt tác về MẸ, về đồng bào mình, về mình.
Về MẸ, ấy là cái “lũy tre làng”, cái “dậu mùng tơi”, cái “giàn trầu”, cái “hàng cau liên phòng” dưới xuôi, cho đến con đường rừng “sỏi đỏ như son” trên ngược... Ấy là cái xứ Huế “cầu cong như chiếc lược ngà” có xóm cũ Ngự Viên với những ngày mưa “cứ kéo dài ra đến mấy ngày”... Ấy cũng là “Đồng Tháp Mười - bao la bát ngát - Đưng sậy lên hoang - Mùa nắng đất khô cỏ cháy - Mùa mưa nước ngập lau tràn...”. Cảnh đất nước trong thơ Đường đẹp như tranh, đẹp như mộng là trong thơ lãng mạn Tây phương. Chỉ ở trong thơ Nguyễn Bính cảnh mới thực đẹp như đời. Bởi thế người Việt Nam nào cũng thấy nó gần mình, nó là mình. Mắt nhìn, tai nghe, lưỡi nếm, mũi ngửi được hết, chấp nhận mà không chối bỏ. Do đó tạo nên chiều sâu và độ rung trong tất cả mọi người: người già, em bé, người ít học, kẻ tri thức. Ở trong nước, nửa thế kỉ rồi không quên. Ở xa nước, 50 năm còn nhớ “cái thắt lưng xanh” hay “hội chèo làng Đặng”... Tôi đã nghe kể chuyện một Việt kiều ở Macxây (Pháp) nuôi ếch trong vườn để được “đêm nghe tiếng ếch bên tai” nên rất thông cảm với 4 câu thơ Nguyễn Bính, một chị tiến sĩ Việt kiều đọc cho tôi nghe:
Ruộng vỡ đường cày, ngõ trải rơm
Phải đây Văn Miếu lối vào thôn?
Đi đâu quên cả màu hoa dại
Quên cả mùi hương gạo tám thơm!
Người ta thuộc lòng thơ Nguyễn Bính viết kể về quê hương, bởi vì quê hương đã nằm sâu trong lòng anh, có lẽ ngay từ cái thuở nó thế chân cho hình ảnh của người mẹ đẻ mà anh không bao giờ còn được thấy mặt. Thường vẫn có nhiều người cho “chỗ quê hương là đẹp hơn cả”. Hình ảnh “nơi chôn nhau cắt rún” hoặc “cáo chết 3 năm quay đầu về núi” đã giải thích được phần nào cái tâm lí đó. Một nhà thơ nổi tiếng đời Đường đi qua lầu Hoàng Hạc nhìn thấy cảnh đẹp nơi quê người mà động lòng sầu xứ:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
(Chiều trông nào chốn quê hương nhỉ?
Khói sóng sông mờ dạ ngổn ngang)
Cũng một nhà thơ khác đi xa mà “đê đầu tư cố hương” (cúi đầu nhớ cố hương). Lamactin ở Pháp, Êxênhin ở Nga hay ai ai thì cũng một tâm trạng ấy. Càng xa càng nhớ, xa nhiều, xa lâu, nhớ càng sâu, càng đậm. Có người nói Nguyễn Bính là nhà thơ của mùa xuân. Chúng tôi nghĩ mùa xuân chỉ là cái cớ cho anh làm thơ nói về nỗi nhớ, Mưa xuân, Nhạc xuân, Xuân tha hương, Xuân vẫn tha hương... Những bài thơ viết về mùa xuân có hồn là mượn mùa xuân mà nhớ. Nhớ cảnh, nhớ người, nhớ những ngày đi không trở lại, nhớ quá khứ ngọt ngào cũng có, mà cay đắng cũng nhiều. Nhưng trước hết là nhớ nhà. Anh có làm một việc đối chiếu cũng là vì nhớ:
... Ở đây ăn Tết buồn chưa!
Rượu bia, hoa giấy và dưa đỏ lòng
Ba ngày Tết nóng như nung...
Xứ mình lắm bướm nhiều hoa
Bờ tơ lá lộc tay ngà vin xanh
Mưa nhè nhẹ, nắng thanh thanh
Nên thơ, ôi, cả xứ mình nên thơ
Hội xuân gió loạn đuôi cờ
Làng xa vào đám nhặt thưa trống chèo...
Lòng chúng ta nhói lên khi đọc những câu anh viết dưới đây:
...Con đi mười mấy năm trời
Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương
Thầy đừng nhớ, mẹ đừng thương
Cầm như đồng kẽm ngang đường bỏ rơi...
hoặc:
Cha già ngừng chén biếng ngâm thơ
Đưa mắt nhìn theo hút dặm mờ
Xe ngựa người về tung cát bụi
Con mình không một lá thư đưa...
Bởi nhớ nhà trước hết là nhớ đến các đấng sinh thành, nhớ công cù lao dưỡng dục. Cụ đồ thân sinh đã cho phép anh cậy những phiến đá xanh bó thềm nhà lên bán để lấy tiền đi giang hồ. Vậy mà:
Một thân lộn đận nơi trời xa
Nằm nghe mưa rơi trên mái nhà
Gió bắt vào thu đầy tiếng lá
Đời tàn, mộng đẹp, tiếc xuân qua...
Đau cho mình, anh lại thương cha, cảm thấy mình có tội với cha:
... Nghìn lạy cha già lượng thứ cho
Trót thân con vướng nợ giang hồ...
Cái “nợ giang hồ” ấy không chỉ bắt anh phải lìa xa người cha già, hai người anh ruột, bà mẹ kế và đàn em dại mà còn bắt anh phải rời bỏ những người bạn chí cốt của anh như Trúc Sơn, Hoàng Tấn, Phạm Ngọc Điển, Bùi Hạnh Cẩn... Trong những ngày lưu lạc ở phương Nam, anh nhớ:
... Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc
Li tán vì cơn gió bụi này
Người ơi! Buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy...
Nửa đêm nghe tiếng còi tàu, Con nhà nho cũ, Lá thư về Bắc, Chú rể là anh... và bao nhiêu bài khác anh viết là về bạn, cho bạn. Những dòng tâm tình đầy ắp kỉ niệm dềnh lên một nỗi nhớ da diết, ấy là tấm lòng anh đối với bạn bè. Để có sự đồng cảm với anh, ta thử hình dung hai kẻ giang hồ “nón lá áo tơi ra quán chợ” trong một chiều đất khách “sầu nghiêng mái quán mưa tong tả” để rồi “cúi mặt soi gương” trong “chén rượu đầy” mà:
... Người quen, nhắc lại từng tên một
Kể lại từng nơi đặt dấu giày...
rồi:
Đứa thương cha yếu, thằng thương mẹ
Cha mẹ chiều chiều, con nước mây
và tự vấn:
... Không hiểu vì sao hai đứa lại
Chung lưng làm một chuyến đi đày?...
Chỉ trong “chuyến đi đày” ấy, họ mới cảm thấy hết nỗi cô đơn đến hãi hùng vì “người đi đày ở đâu cũng cô đơn” như một nhà thơ Pháp từng viết (“L’exilé partout est seul”). Trong sự cô đơn ấy, anh luôn luôn đặt tấm lòng mình về phía bạn.
Cũng, trong cô đơn, anh luôn luôn nhắc đến một người. Người đó chính là chị Trúc, là người đã Lỡ bước sang ngang. Thương chị Trúc, anh đã viết nên bài thơ bất hủ ấy. Thương chị Trúc, anh còn viết bài Mười hai bến nước cũng bất hủ không kém, rồi với chị Trúc, anh gửi Xuân tha hương, Xuân lại tha hương, Xuân vẫn tha hương... Anh thủ thỉ tâm sự với chị về nỗi mình, nỗi người. Anh thương chị Trúc phải ở cho “vuông tròn phận lãnh cung”. Anh “thương chị từ khi chị lấy chồng”, từ khi:
... Phong ba từ nổi trong đời chị
Tóc rối xuân xanh nhạt má hường...
Rồi anh xin lỗi chị về cái vô tình của mình:
... Đầu xanh tay trắng hồn nhiên
Nên quà cho chị đành quên gửi về...
Và anh tin tưởng, anh cầu mong:
... Trời gần, trời có xa đâu
Thế nào chị cũng qua cầu đắng cay...
Nỗi đau của chị Trúc có phần nào giống nỗi đau của đời anh. Hai con người bất hạnh ấy gặp nhau và trải lòng ra với nhau. Nguyễn Bính cay đắng nói với chị Trúc về sự bạc bẽo của người mà anh đặt tạm cho một cái tên là Hương, một người mà anh đã:
... Xây bao nhiêu mộng thế mà
Đến nay phải gọi người là cố nhân...
Cũng đừng trách chi kẻ bị phụ tình vì những con Bướm nói điêu. Kẻ si tình, nhất, là kẻ si tình lại là một nhà thơ, một người đã “cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu” - như Xuân Diệu đã viết - kẻ ấy khi đã yêu thì say đắm lắm, dù bị lừa dối mà phải kêu lên:
...Ai đem nhuộm lá cho vàng
Nhuộm đời cho bạc, cho nàng phụ ta?
hoặc:
... Tưởng rằng bền, ngỡ rằng lâu
Lửa giàu sang đốt cháy cầu tơ duyên...
nhưng kẻ si tình ấy vẫn muốn là một kẻ chung tình:
... Hỏi rằng tôi đã quên chưa?
Tôi còn nhớ lắm và thưa: rất buồn.
Trong trái tim chia làm 4 ngăn ấy, ngăn chứa oán hận chỉ chiếm có một phần vơi. Còn trên 3 phần vẫn là thương yêu. Anh xót xa lắm nhưng mà cũng phải hiểu rằng:
... Mưa chiều, nắng sớm người ta bảo
Đến cả ông trời cũng đổi thay...
Do vậv anh vẫn nghĩ về “OANH”, vẫn “NHỚ OANH”; vẫn thương MAI, vẫn gửi hồn về cô học trò trường huyện, ghen thì rất ghen bởi vì yêu lắm là đồng nghĩa với ghen nhưng ghen mà vẫn nhớ, rất nhớ:
...Tôi lạnh đầu sông, giá ngọn nguồn.
Nhớ nhà thì ít, nhớ em luôn...
Nhớ đến mức trong buổi chiều quan tái ấy, anh vẫn nghĩ đến, vì thế mà bóng người yêu dường như hiện ra trong đáy cốc rượu đầy để cho anh:
... Tôi uống bóng em và uống cả
Một trời quan tái mấy cho say...
Đã có một lần anh tự thú:
... Có một ngàn đêm tôi chiêm bao
Ba đêm nay khóc dưới mưa rào
Đêm nay mắt đỏ rồi mưa tạnh
Tôi khóc âm thầm dưới bóng sao ...
Đã có một lần anh nhớ ra “lòng người”. Nhưng mà anh cắn răng lại mà nói với con người bạc bẽo:
... Nàng hãy đi xây lại cuộc đời
Rồi đây ai nhắc đến tên tôi
Và ai có hỏi: “là ai nhỉ?”
Nàng lạnh lùng cho: “chả biết ai”
Tôi sẽ đi đây! tôi sẽ quên
Trọn đời làm một kẻ vô duyên
Trọn đời làm một thân cô lữ
Ở mọi đường xa, ở mọi miền...
Anh đã đi thật, đă thật sự làm “một thân cô lữ” nhưng quên thì không. Bởi nếu quên được thì đó là một trái tim bằng đá. Đã là trái tim đá thì không mảy may rung động được trước Những bóng người trên sân ga: hai em bé, một cặp người yêu, đôi người bạn cũ, hai vợ chồng, một bà mẹ già, một người lữ khách... đã làm “những cuộc chia lìa..”. Với một tấm tình người dào dạt, anh phát hiện ra và thông cảm với “những đôi mắt ướt”, ở cái chỗ không có chỗ nào buồn hơn này:
Buồn ở đâu hơn ở chốn này!
Cũng con người nhân ái ấy khi nhìn thấy “một chiếc xe màu trắng đục” với “hai con ngựa trắng”.
đem đi một chiếc quan tài trắng
và những vòng hoa trắng lạnh người
biết rằng đó là một nàng trinh nữ xấu số nên đã động lòng xót thương mà liên tưởng về một cuộc đời thơ ngây, đẹp đẽ với bao ước mộng chưa thành để rồi viết nên những câu chan chứa tình người:
Tôi với nàng đây không biết nhau
Mà tôi thương tiếc bởi vì đâu?
Mĩ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu
Bài thơ của Malecbơ khóc con gái nổi tiếng là trác tuyệt:
“Et rose, elle a vécu ce que vivent ies roses
L’espace d’un matin ...”
(Và là đóa hồng, con đã sống như những bông hồng chỉ trong khoảnh khắc của một buổi mai).
Bài thơ kiệt tác của Lamactin (Lamartine) “Nỗi tiếc hận đầu tiên” (Le premier regret) khóc nàng Gradiêla... cũng chỉ hay được đến như Viếng hồn trinh nữ của Nguyễn Bính là cùng. Còn như chuyện thơ Cây đàn tì bà của anh thì có thể không thẹn với những tác phẩm cổ điển nổi tiếng của tiền nhân ta như: Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc... Cảm thông số phận bi thảm của người con gái nhan sắc mà tài hoa họ Triệu, tên Ngũ Nương, Nguyễn Bính đã viết một mạch trên mấy ngàn câu thơ vừa tố cáo, lên án tên thư sinh hữu tài vô hạnh họ Thái vừa nhỏ nước mắt xót thương cho người vợ dịu hiền, chung thủy bị phụ tình. Xét về phương diện nhân quyền thì có thể coi đây là một trong những tiếng kêu đòi nhân quyền vang vọng nhất trong lịch sử văn học Việt Nam từ khởi thủy cho đến trước ngày Cách mạng tháng Tám nổ ra.
Cách mạng tháng Tám, cuộc cách mạng của những người bi áp bức đứng lên đánh đổ kẻ áp bức đã thật sự giải thoát cho Nguyễn Bính. Bao nhiêu điều ẩn ức được gỡ tung - Anh nhập ngay vào cách mạng. Nỗi đau mình, đau người, đau đời hướng anh lao về một phía chân trời mà anh kỳ vọng, có thể vĩnh viễn chôn đi mọi nỗi đau và đem đến mọi niềm vui. Ở xa quê, anh vẫn nhớ, nhưng bây giờ là một nỗi nhớ phấp phới niềm vui. Niềm vui của một người nô lệ đã được cởi bỏ gông xiềng nô lệ. Niềm vui của một tài năng phải lăn lóc bán văn nuôi miệng, nay được tự do đem văn về phục vụ nhân dân được giải phóng, đất nước được giải phóng. Không còn tìm thấy nỗi đau ghê gớm của anh, của một cá nhân đơn lẻ nằm nghe mưa rơi mà gầm lên như xé ruột:
... Mưa mãi, mưa hoài, mưa bứt rứt
Đêm dài đằng đẵng, đêm bao la...
Đất nước bị chia cắt, anh cũng mang một nỗi đau, nhưng là nỗi đau chung. Nỗi đau trước tội ác của kẻ thù trút lên đồng bào mình:
... Người đương gặt bỗng tù, bỗng tội
Người đương ăn chết vội, chết vàng
Người vừa đưa bạn sang ngang
Mái chèo chưa ráo hồn oan đã lìa...
Ngay cả nỗi đau riêng của anh, nỗi đau của người chồng phải xa vợ, người cha phải xa con, bây giờ cũng đã trở thành nỗi đau chung của nhân dân hai miền phải sống cảnh “ngày Bắc đêm Nam, ngày Nam đêm Bắc”. Bức thư Gửi người vợ miền Nam viết bằng thơ của anh là tình, là nghĩa riêng anh mà cũng là tiếng lòng chung của mọi người. Có những đêm một mình ngồi nhìn “sao sáng”, anh bỗng da diết nhớ:
... Trời còn có bữa sao quên mọc
Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em...
Đến thế cũng là tận cùng của nỗi đau, của niềm thương.
Người Pháp có câu: “Những nỗi đau lớn tạo nên những thi sĩ lớn” (Les grandes douleurs font les grands poètes). Đôi vai gầy của nhà thơ Nguyễn Bính đã phải gồng lên gánh biết bao nỗi đau đớn: nỗi đau mất nước, mất mẹ, cuộc đời lận đận, nỗi đau Tổ quốc bị chia cắt, xa vợ lìa con, nỗi đau nhân tình thế thái. Nỗi đau của mình và nỗi đau của đồng loại. Những cái đó là thành tố chủ đạo của thơ anh. Song có điều khó có thể tìm thấy trong thơ anh cái giọng hằn học hay rên rẩm, bi thiết tuy có phẫn nộ, đắng cay, chua chát nữa. Cơ bản vẫn là thương yêu.
Tâm hồn Nguyễn Bính giống như một cây đàn muôn điệu. Thoáng một chút gió là rung lên. Nhưng đây là những thoáng gió quê hương, những thoáng gió thổi từ đồng nội tới. Vì thế mà thơ anh đậm đà tính dân tộc, anh là một nhà thơ mang bản sắc dân tộc rõ nét nhất. Dân tộc nhưng không quê kệch, quê mùa, ngược lại rất tinh tế, thanh tao nữa. Anh không bị rơi vào chủ nghĩa phản ánh, minh họa như một vài nhà thơ khác. Có người trách anh từ khi “đi tỉnh về” thì có để cho “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”. Chúng tôi không nghĩ như thế. Có “đi tỉnh” anh mới thấm thía hơn mối tình quê. Có “đi tỉnh” trong thơ anh mới có được cách ngắt, đặt câu (césure, enjambement), kể cả việc cấu tứ, lập ý góp cho thơ anh vừa dân tộc vừa hiện đại, toàn bộ thơ anh hợp thành một “tổ khúc đồng nội” (symphonie pastorale) không lẫn với ai, không lẫn vào đâu được.
Đọc thơ Nguyễn Bính, tôi nhớ đến một câu của Bạch Cư Dị:
“Rung động lòng người không có gì trước hơn tình cảm, không có gì sớm hơn ngôn ngữ, không có gì tha thiết hơn âm thanh, không có gì sâu sắc hơn ý nghĩa thơ. Tình là gốc, lời là ngọn, âm thanh là hoa lá, nghĩa là quả”.
Thơ Nguyễn Bính đẹp về lời, dào dạt về âm thanh nhưng trước hết và sau cùng vẫn là Tình và Nghĩa.
Anh tự nhận và chúng ta khẳng định.
Ngày giỗ Nguyễn Bính